Những Giải Thích Về Lời Chào Của Thiên Sứ Hay Các Bài Giảng Về Kính Mừng Maria của thánh Tôma Aquinô, Dòng Anh Em Giảng Thuyết

Tác Phẩm

Những Giải Thích Về Lời Chào Của Thiên Sứ Hay Các Bài Giảng Về Kính Mừng Maria của thánh Tôma Aquinô, Dòng Anh Em Giảng Thuyết

Ngày đăng: 17/09/2026

 

Xin gửi đến quý Cha đặc trách, quý Ban điều hành, quý Hội viên của Hiệp hội Kinh Mân Côi Đa Minh Việt Nam bản dịch của Linh mục Giuse Nguyễn Văn Giới, O.P.

Những Giải Thích Về Lời Chào Của Thiên SHay Các Bài Giảng Về Kính Mừng Maria của thánh Tôma Aquinô, Dòng Anh Em Giảng Thuyết.

Bản dịch này được chuyển ngữ từ ấn bản của đan sĩ Fontgombault, 1987

 

 

Lời Tựa

Bản văn này được thánh Tôma Aquinô thuyết giảng cho các tín hữu tại Napoli vào Mùa Chay năm 1273, và được lưu giữ như một chứng từ quý giá về đức tin bình dân và trí tuệ thần học gặp gỡ nhau nơi thánh Tôma Aquinô.

Chúng ta sẽ thấy Thánh nhân đã giải thích từng lời trong Lời Chào của Thiên sứ, giúp các tín hữu khám phá sự cao cả của Đức Trinh nữ và giá trị của lời cầu nguyện quen thuộc này.

Trong tháng 10, Tháng Mân Côi kính Đức Mẹ Maria, chúng tôi hy vọng bản dịch nhỏ bé này có thể giúp mọi người tín hữu thêm lòng yêu mến Mẹ, yêu mến kinh Kính mừng để đọc lời kinh này với tâm hồn sốt sắng và hiểu biết sâu xa hơn.

Ước mong rằng, qua lời chuyển cầu của Đức Trinh nữ Maria Rất thánh, chúng ta ngày càng gắn bó hơn với Chúa Kitô, Con của Mẹ, Đấng Cứu độ duy nhất của nhân loại.

 

 

 

GIẢI THÍCH LỜI CHÀO CỦA THIÊN SỨ

  1. Lời chào của Thiên sứ gồm ba phần. Phần thứ nhất là lời của Thiên sứ ngỏ với Đức Maria, theo bản Vulgata : “Kính chào, ôi kẻ đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà được chúc phúc hơn các phụ nữ” (Lc 1, 28).

Phần thứ hai là những lời của bà Êlisabét, thân mẫu của thánh Gioan Tẩy giả : “Chúc tụng hoa trái của lòng bà” (Lc 1, 42).

Hội Thánh thêm vào phần thứ ba danh xưng “Maria”. Thật vậy, Thiên sứ không thưa : “Kính chào, ôi Maria” mà là “Kính chào, ôi đấng đầy ân sủng”. Danh xưng Maria này, với ý nghĩa của nó (như sẽ được giải thích bên dưới), rất xứng hợp với lời của Thiên sứ Gabriel.

KÍNH CHÀO

  1. Thời cổ xưa, việc các Thiên sứ hiện ra với loài người là một sự kiện vô cùng quan trọng. Người ta xem đó là một vinh dự không thể đo lường được khi được bày tỏ lòng tôn kính với các sứ giả của Thiên Chúa. Do đó, Kinh Thánh đã ca ngợi tổ phụ Ápraham vì ông đã đón rước các Thiên sứ và tiếp đãi họ một cách vô cùng kính trọng.

Tuy nhiên, việc một Thiên sứ phải bái phục trước một thụ tạo loài người là điều chưa từng xẩy ra cho đến khi Tổng lãnh Thiên thần Gabriel bày tỏ sự kính phục đối với Đức Trinh nữ Maria diễm phúc bằng những lời “Kính chào”.

3. Trong thời cổ đại, sở dĩ loài người kính bái các Thiên sứ và các Thiên sứ không bao giờ làm điều đó với con người là bởi vì các Thiên sứ trổi vượt hơn con người.

Sự vượt trội này được thể hiện vì lý do :

Thứ nhất, Thiên sứ cao trọng hơn con người về phẩm tính, do bản tính linh thiêng của các ngài như Thánh vịnh (103, 4) diễn tả : “ Thiên Chúa đã dựng nên các sứ giả của Ngài như là thần khí (không hư hoại)”. Trong khi đó, loài người vốn mang một bản tính hư nát. Vì thế, ông Ápraham đã thưa với Thiên Chúa (St 18, 27) : “ Mặc dầu chỉ là thân tro bụi, tôi cũng xin mạn phép thưa với Chúa tôi. Do đó, một loài linh thiêng và bất hoại không thể hạ mình trước một tạo vật dễ hư nát.

Thứ hai, Thiên sứ cao trọng hơn con người vì sự thân cận với Thiên Chúa. Thực vậy, Thiên sứ thuộc về triều đình của Thiên Chúa, luôn hầu cận trước nhan Ngài. Sách Đanien (7, 10) diễn tả : “Muôn ngàn Thiên sứ phụng sự Thiên Chúa và vô vàn vị túc trực trước nhan Người. Trái lại, con người trở thành những kẻ xa lạ với Thiên Chúa vì mang tội, giống như kẻ lưu đày xa cách thánh nhan Người. Lời Thánh vịnh (54, 8) diễn tả : “Tôi sẽ lánh đi mãi tận chốn xa vời. Bởi thế, thật xứng hợp khi con người tỏ lòng kính trọng đối với các Thiên sứ, vì các ngài gần gũi và thân mật với Đấng Tối cao.

Thứ ba, Thiên sứ vượt trội con người nhờ sự viên mãn ánh sáng ân sủng thần linh. Thực vậy, các Thiên sứ được thông dự vào ánh quang huy hoàng của Thiên Chúa cách sung mãn nhất. Sách Gióp (25, 3) viết rằng : Cơ binh Người, ai đếm được hết, ánh sáng Người, nào ai tránh nổi?” Vì thế, các Thiên sứ luôn xuất hiện trong ánh sáng rạng ngời. Con người cũng được thông dự vào ánh sáng ân sủng ấy, nhưng rất ít ỏi và cách mờ nhạt.

4. – Vì thế, một Thiên sứ cúi mình bái phục trước con người là không thể xứng hợp cho đến khi xuất hiện một thụ tạo loài người vượt trổi hơn các Thiên sứ bởi sự viên mãn ân sủng (x. số 5–10), nhờ sự gần gũi với Thiên Chúa (x. số 10) và do phẩm tính thiêng liêng cao cả. Thụ tạo loài người ấy chính là Đức Trinh nữ Maria diễm phúc. Để thừa nhận sự cao trọng này, Thiên sứ đã bày tỏ lòng kính phục với Đức Trinh nữ bằng lời “Kính chào”.

ĐẦY ÂN SỦNG

5. – Trước hết, Đức Trinh nữ diễm phúc vượt trên tất cả các Thiên sứ nhờ sự viên mãn ân sủng. Để diễn tả sự cao trọng ấy, Tổng lãnh Thiên thần Gabriel đã cúi mình trước Đức Maria và nói những lời: “Bà đầy ân sủng”, điều này có nghĩa là: “Tôi bái phục Ngài, bởi vì Ngài vượt trội hơn tôi về sự viên mãn ân sủng”.

Sự viên mãn ân sủng của Đức Trinh nữ Maria diễm phúc có thể hiểu theo ba phương diện :

Trước hết, linh hồn Đức thánh Trinh nữ được tràn đầy ân sủng. Thiên Chúa ban ân sủng vì hai lý do: để làm điều thiện và tránh điều ác. Xét theo cả hai khía cạnh này, Đức Trinh nữ đã được hưởng ân sủng một cách tròn đầy nhất. Người đã tránh xa tội lỗi hơn tất cả mọi thánh nhân, chỉ sau Chúa Kitô.

Tội lỗi gồm tội nguyên tổ và tội cá nhân trọng hay nhẹ. Thật vậy, Đức Trinh nữ đã được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ ngay từ giây phút đầu tiên khi được thụ thai trong lòng thân mẫu. Người cũng được khỏi mọi tội trọng và tội nhẹ. Vì thế, Sách Diễm ca (4, 7) đã viết : “Bạn ta ơi, bạn thật xinh đẹp, nơi bạn chẳng một chút vết nhơ.”

Thánh Augustinô viết  trong tác phẩm về Tự nhiên và ân sủng : “Ngoại trừ Đức Trinh nữ Rất Thánh, tất cả các thánh nam và thánh nữ, trong suốt cuộc đời trần thế của các ngài, nếu ai đó hỏi : “Các ngài có vô tội không?”, tất cả đều đồng thanh đáp rằng : “Nếu chúng tôi nói rằng chúng tôi không có tội, thì chúng tôi tự lừa dối mình và sự thật không ở trong chúng tôi.” (1 Ga 1, 8). Còn Đức thánh Trinh nữ là một ngoại lệ. Vì danh dự của Thiên Chúa, khi nói đến tội lỗi, tôi không bao giờ muốn đặt vấn đề nơi Mẹ. Chúng ta biết rõ rằng Mẹ đã được ban ân sủng dồi dào nhất để chiến thắng hoàn toàn tội lỗi. Mẹ xứng đáng thụ thai và cưu mang Đấng tuyệt đối vô nhiễm mọi tội nhơ.”

Tuy nhiên, Chúa Kitô vẫn vượt trội hơn Đức Trinh nữ diễm phúc. Chắc chắn cả hai đều được thụ thai và sinh ra không mắc tội nguyên tổ. Nhưng Đức Maria, khác với Chúa Giêsu, về mặt luật lệ vẫn phải chịu tội lỗi đó. Nếu thực sự Người đã được thoát hỏi hoàn toàn mọi tội lỗi, thì đó là nhờ ân sủng và đặc ân riêng biệt của Thiên Chúa Toàn năng, và nhờ công nghiệp của chính Con của Người, là Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ nhân loại.

7. – Đức Trinh nữ cũng đã thực hành mọi nhân đức. Các thánh khác chỉ nổi bật trong một vài nhân đức: vị này về khiêm nhường, vị kia về khiết tịnh, vị khác về lòng nhân hậu. Vì thế, họ được nêu lên như là mẫu gương của từng nhân đức đặc thù. Chẳng hạn, thánh Nicôla như là mẫu gương của lòng xót thương. Còn Đức Trinh nữ diễm phúc là mẫu gương và chuẩn mực cho mọi nhân đức. Nơi Người, chúng ta tìm thấy mẫu gương khiêm nhường qua những lời thưa (Lc 1,38) : “Này đây, tôi là tôi tớ của Thiên Chúa”; “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới.” (Lc 1,48). Người cũng là mẫu gương khiết tịnh như Người thừa nhận rằng tôi không biết đến người đàn ông (x. Lc 1,34). Thật dễ nhận ra Người đã nêu gương sáng cho mọi nhân đức. Như vậy, Đức Trinh nữ diễm phúc thật sự đầy ân sủng để làm điều thiện và tránh điều dữ.

8. – Thứ hai, sự viên mãn ân sủng của Đức Maria còn thể hiện qua việc ân sủng tuôn tràn từ linh hồn ra cả thân thể của Người. Được Thiên Chúa ban ân sủng để nên thánh trong linh hồn là một hồng ân cao cả cho các thánh. Nhưng linh hồn Đức Trinh nữ Maria lại được tràn đầy ân sủng đến nỗi tuôn trào ra cả thân thể, nơi mà Người đã cưu mang Con Thiên Chúa.

Hugues saint - Victor diễn tả rằng “Bởi vì tình yêu của Chúa Thánh Thần đã bừng cháy nồng nàn trong tâm hồn Đức Trinh nữ, nên đã tạo ra những kỳ công vĩ đại nơi thân xác của Người đến nỗi Người đã sinh ra Con người Thiên Chúa, đúng như lời Thiên sứ đã loan báo cho Đức Trinh nữ rằng: “Một Hài nhi mà Bà sinh ra sẽ là Đấng Thánh và sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc 1,35).

9. - Thứ ba, Đức Trinh nữ diễm Phúc đầy tràn ân sủng đến mức làm lan tỏa sự viên mãn ấy cho toàn thể mọi người. Mỗi một vị thánh nhận được đầy đủ ân sủng để đem ơn cứu độ cho nhiều người là một đặc ân lớn lao. Nhưng nếu một vị thánh được ban ân sủng đến mức có thể mang ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại, thì chắc chắn vị ấy đã được hưởng một ân sủng dư tràn vô song. Sự viên mãn ấy chỉ có nơi Chúa Kitô và Đức Trinh nữ diễm phúc.

Thực vậy, trong mọi cơn nguy khốn, người ta đều có thể tìm được sự giải thoát nhờ Đức Trinh nữ vinh hiển này. Bởi thế, sách Diễm ca (4,4) đã tán tụng rằng :
“Cổ nàng đẹp như tháp ngà Đa-vít xây lên để trưng bày chiến lợi phẩm: nơi đó treo ​ngàn vạn mộc khiên toàn là của anh hùng dũng sĩ. Điều này có nghĩa là nơi Người có ngàn phương thế để cứu chúng ta khỏi muôn vàn hiểm nguy. Trong việc thực hiện mọi nhân đức, chúng ta cũng có thể nhận được sự trợ giúp của Người. Sách Huấn ca diễn tả : “Các ngươi có thể thấy nơi Ta tất cả niềm hy vọng về nhân đức và sự sống” (Hc 24,25).

MARIA

10. – Đức Trinh nữ, đầy ân sủng, vượt trên các Thiên sứ nhờ sự viên mãn ân sủng của Người. Vì thế, Người được gọi là Maria một cách hết sức xứng hợp. Danh xưng “Maria” này có nghĩa là “người mang ánh sáng trong mình”. Do đó, những lời ngôn sứ Isaia (58, 11) có thể áp dụng cách tuyệt hảo cho Đức Maria : “Thiên Chúa sẽ làm cho linh hồn Người tràn đầy ánh sáng.”

Danh xưng “Maria” còn có nghĩa là “người soi sáng cho tha nhân” trong toàn thể vũ trụ. Bởi thế, Đức Maria xứng đáng được sánh ví với mặt trời và mặt trăng (x. Dc 6, 9).

ĐỨC CHÚA Ở CÙNG BÀ

11. – Thứ đến, Đức thánh Trinh nữ vượt trên các Thiên sứ nhờ sự thân mật của Người với Thiên Chúa. Tổng lãnh Thiên thần Gabriel đã công nhận sự trổi vượt này khi thưa với Người : “Chúa ở cùng Bà.”, nghĩa là nói với Đức Trinh nữ rằng : “Tôi kính chào Bà và tôi tuyên xưng rằng Bà gần gũi với Thiên Chúa hơn chính tôi: thật vậy, Thiên Chúa ở cùng Bà.”

Chúa Cha ở cùng Đức Maria bởi vì Người không tách rời khỏi Con của Người. Đức Maria đã cưu mang Con Thiên Chúa theo cách mà không một thụ tạo nào có được, kể cả Thiên sứ. Quả thế, chính Thiên Chúa đã sai Tổng lãnh Thiên thần Gabriel đến thưa với Đức Trinh nữ (Lc 1,35) : “Đấng Thánh mà Bà sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.”

Chúa Con ở cùng Đức Maria bởi vì chính Người đã ngự trong cung lòng của Bà. Do đó, hơn bất kỳ thụ tạo nào khác, Đức Trinh nữ thật xứng hợp với những lời của ngôn sứ Isaia (12, 6): “Hỡi nhà Sion, hãy hớn hở reo hò! Đấng Thánh của Ítraen ngự trong Ngươi”. Như thế, Chúa hiện diện nơi Đức Trinh nữ Maria không theo cùng một cách thế như nơi các Thiên sứ. Đối với Đức Trinh nữ, Chúa trở nên Con của Người. Còn đối với các Thiên sứ, Chúa hiện diện như là Chúa của họ.

Chúa Thánh Thần ở cùng Đức Maria, như trong một Đền thờ, nơi Ngài hoạt động cách huyền nhiệm. Chính Thiên sứ đã báo tin cho Đức Trinh nữ (Lc 1, 35) : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà.” Nhờ quyền năng Chúa Thánh Linh, Đức Maria đã thụ thai. Vì thế, chúng ta gọi Người là “Đền Thờ của Chúa”“Cung điện của Chúa Thánh Thần” (x. phụng vụ các lễ kính Đức Mẹ).

Như vậy, Đức Trinh nữ Maria diễm phúc có sự gần gũi với Thiên Chúa hơn bất cứ thụ tạo thiên thần nào khác, bởi vì cả Ba ngôi Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần đều ở cùng Người. Vì thế, Hội Thánh ca tụng Người rằng : “Ôi ngai tòa cao sang của Ba Ngôi Chí thánh.” Thật vậy, lời chào “Chúa ở cùng Bà” là lời chúc tụng cao quý và tôn vinh nhất có thể được dành cho Đức Trinh nữ.

MARIA

12. – Thật vậy, Đức Trinh nữ là Mẹ của Thiên Chúa Tối Cao, nên chính Người cũng là “Bà Chúa”. Vì thế, danh xưng Maria, trong tiếng Syriac có nghĩa là “Bà Chủ”, hoàn toàn xứng hợp với Người.

13. Thứ ba, Đức Trinh nữ vượt trổi hơn các Thiên sứ nhờ sự tinh tuyền. Thật vậy, Người không chỉ gìn giữ trọn vẹn sự tinh tuyền nơi bản thân, mà còn thông ban sự tinh tuyền ấy cho người khác. Hơn nữa, Người hoàn toàn trong sạch, không hề vương mắc bất cứ tội nào vì đã được thoát khỏi tội nguyên tổ. Người cũng chẳng hề phạm tội trọng hay sa tội nhẹ, và cũng không phải chịu bất cứ hình phạt nào.

 

GIẢI THÍCH LỜI CHÀO CỦA BÀ ÊLISABÉT

14. – Thực vậy, do tội nguyên tổ, Thiên Chúa đã giáng ba lời chúc dữ xuống trên loài người.

Lời thứ nhất nhắm đến người nữ. Theo lời chúc dữ này, người phụ nữ sẽ phải mang thai những đứa con của mình với bao nỗi khó nhọc và sinh chúng ra trong đau đớn. Nhưng Đức Trinh nữ diễm phúc đã thoát khỏi những nỗi khổ cực ấy. Thật vậy, Người đã thụ thai Đấng Cứu độ mà không hề bị hư hoại, đã cưu mang Người trong hân hoan và sinh hạ Người với niềm vui khôn tả. Thật xứng hợp khi áp dụng cho Đức thánh Trinh nữ  những lời ngôn sứ Isaia (35,2) : “Đất sẽ mừng rỡ trổ bông...sẽ hân hoan múa nhảy reo hò.”

15. – Lời chúc dữ thứ hai dành cho người đàn ông (St 3,19) : “Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh mà ăn.” Đức Trinh nữ diễm phúc cũng được thoát khỏi hình phạt cực nhọc này như lời của thánh Tông đồ (1Cr 7, 34) : “Các Trinh nữ được giải thoát khỏi những bận tâm thế sự, để chỉ chuyên tâm phụng sự Thiên Chúa.”

16. – Lời chúc dữ thứ ba dành cho cả người nam và người nữ. Theo lời nguyền này, cả hai sẽ phải trở về với bụi tro. Nhưng Đức Trinh nữ Diễm Phúc được thoát khỏi điều này. Thật vậy, Người đã được cất về trời cả linh hồn và thân thể. Chúng ta tin rằng Người đã được sống lại sau khi chết và được rước về trời. Do đó, thật xứng hợp khi áp dụng cho Người lời Thánh vịnh (131, 8) : “Lạy Chúa, xin đứng dậy, để cùng với hòm bia oai linh Chúa ngự về chốn nghỉ ngơi.”

BÀ ĐƯỢC CHÚC PHÚC HƠN MỌI NGƯỜI NỮ

17. – Đức Trinh nữ đã được thoát khỏi mọi lời chúc dữ và được chúc lành hơn mọi phụ nữ (Lc 1, 28 và 42). Quả thật, chỉ một mình Người đã cất sự chúc dữ, mang lại lời chúc lành và mở cửa vào thiên đàng. Do đó, danh hiệu “Maria” rất xứng hợp với Người. Thực vậy, Maria có nghĩa là “Ngôi Sao Biển” (Etoile de la mer). Như các thủy thủ được dẫn đến bến nhờ sao biển, thì cũng vậy, nhờ Đức Maria, các Kitô hữu được dẫn đến vinh quang.

CHÚC TỤNG HOA TRÁI CỦA LÒNG BÀ

  1. Người tội lỗi thường tìm ở nơi sự vật hay nơi một ai đó điều mà họ không thể đạt được, trong khi điều ấy lại được ban cho người công chính. Sách Châm ngôn (13,22) diễn tả : “Sự giầu có của kẻ ác lại dành cho chính nhân.”. Cũng vậy, bà Evà đã ăn trái cấm, nhưng lại không đạt được điều lòng mình mong ước. Trái lại, Đức Trinh nữ diễm phúc đã tìm thấy trong hoa trái của lòng dạ mình tất cả những gì mà bà Evà hằng khao khát.

19. –  Quả thật, bà Evà đã khao khát ở trong trái cấm ba điều :

Trước hết, bà Evà khao khát tìm kiếm sự thần linh cho chính bà và cho ông Ađam, điều mà ma quỷ đã dối trá hứa hẹn với bà rằng : “Các ngươi sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (St 3, 5). Ma quỷ đã nói dối, bởi vì nó là kẻ nói dối và là cha đẻ của sự dối trá (x. Ga 8, 44). Khi ăn trái, bà Evà đã không trở nên giống Thiên Chúa, nhưng lại trái nghịch với Ngài. Quả thật, vì tội lỗi, bà đã xa rời Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ duy nhất của bà. Vì thế, bà đã bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng.

Ngược lại, Đức Trinh nữ diễm phúc đã có được sự thần linh trong quả phúc lòng mình. Quả thật, nhờ Đức Kitô, chúng ta được kết hợp với Thiên Chúa và trở nên giống Người. Thánh Gioan nói rằng : “Chúng ta biết rằng khi Đức Ki-tô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1 Ga 3, 2).

  1. – Thứ đến, bà Evà mong tìm được niềm vui khoái lạc khi ăn quả trái cấm, vì “trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt” (St 3,6). Nhưng bà đã chẳng tìm thấy điều đó; vì ngay khi ăn, bà nhận ra sự trần truồng của mình và đau khổ đã bước vào cuộc đời bà. Ngược lại, ở nơi hoa trái của Đức Trinh nữ, chúng ta tìm thấy sự ngọt ngào và cứu thoát. Quả thật, Chúa nói: “Ai ăn thịt tôi, thì được thông dự vào sống muôn đời” (Ga 6,55).
  2. Sau cùng, trái cây mà bà Evà thèm muốn thì đẹp mắt (St 3,6). Nhưng hoa trái của Đức Trinh nữ còn đẹp gấp bội phần đến nỗi các Thiên sứ cũng ước mong được chiêm ngưỡng (x. 1Pr 1,12). Vịnh gia tán thán rằng : “Giữa thế nhân, ngài vô song tuyệt mỹ, nét duyên tươi thắm nở môi Ngài” (Tv 44,3) bởi vì, như lời thánh Phaolô, Người là phản ánh vẻ huy hoàng của Chúa Cha” (x. Dt 1,3). Như thế, bà Evà, cũng giống như bất kỳ tội nhân nào, đã chẳng thể tìm thấy điều mà họ khao khát đạt được nơi tội lỗi của họ. Vì thế, tất cả những gì chúng ta trông mong, hãy tìm ở nơi hoa trái của Đức Trinh nữ là Đức Giêsu.
  3. Quả phúc này của Đức Trinh nữ Maria được Thiên Chúa chúc lành. Thật vậy, Thiên Chúa đã tuôn đổ nơi Người đầy tràn ân sủng đến nỗi việc Người đến với chúng ta thì đã làm vinh danh Thiên Chúa rồi, như thánh Phaolô khẳng định trong thư Êphêsô : “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Trong Đức Ki-tô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần” (Ep 1,3).

Quả phúc này của Đức Trinh nữ cũng được các Thiên sứ chúc tụng. Sách Khải huyền (7,11-12) cho chúng ta thấy rằng các Thiên thần sấp mặt xuống đất, phủ phục trước ngai và thờ lạy Đức Kitô mà tung hô rằng : “A-men ! Xin kính dâng Thiên Chúa chúng ta lời chúc tụng và vinh quang, sự khôn ngoan và lời tạ ơn, danh dự, uy quyền và sức mạnh, đến muôn thuở muôn đời ! A-men.”

Người cũng được loài người chúc tụng như lời thánh Phaolô Tông đồ diễn tả : “mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng : “Đức Giê-su Ki-tô là Chúa” (Pl 2,11). Chính Vịnh gia cũng ca chúc rằng : “Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa” (Tv 117,26). Như vậy, Đức Trinh nữ được chúc phúc, nhưng hoa trái của lòng Người còn được chúc tụng hơn bội phần.